Trước tiên, chúng tôi nêu ra những điều không nên làm thay cho các quy tắc có tính xây dựng. Ông ta phải biết chuyện gì có vẻ đúng là đã xảy ra và biết những chuyện đã thật sự diễn ra theo lời một vài nhân chứng hay tác giả khác. Vì thế, không có gì là nghiêm trọng khi ta hoãn dạy đọc cho trẻ đến khi nào trẻ thật sự bước vào giai đoạn sẵn sàng đọc.
Đây là đọc để lấy thông tin. Một độc giả quan tâm đến chủ đề này và muốn nắm bắt thông tin cần biết mọi khía cạnh của nó. Cũng như trong khoa học, các thuật ngữ cơ bản trong triết học rất trừu tượng.
Nó không thể chữa được hoàn toàn sự thiếu hiểu biết của bạn, cũng như không thể suy nghĩ hộ bạn. Người đọc có cảm giác tác giả muốn nói nhiều hơn những gì được viết ra vì họ phải suy nghĩ rất nhiều và liên kết các câu, dựng nên những lý lẽ để đưa ra lý luận của riêng mình. QUY TẮC 2: TRÌNH BÀY SỰ THỐNG NHẤT CỦA TOÀN BỘ NỘI DUNG CUỐN SÁCH TRONG MỘT CÂU ĐƠN HOẶC MỘT ĐOẠN VĂN NGẮN.
Để hiểu trọn vẹn tác phẩm của một triết gia, bạn cũng nên cố gắng đọc tác phẩm của những triết gia có ảnh hưởng tới suy nghĩ của tác giả này. Nói cách khác, một người có thể đọc tốt nhưng chưa chắc đã phê bình tốt. Còn với tác phẩm trữ tình, thường là câu hỏi về tu từ, đôi khi cũng mang tính cú pháp.
Việc thiếu thông tin có thể là nguyên nhân dẫn tới các kết luận sai lầm. Đó là ta không thể biết chắc về những điều đang diễn ra cũng như ta hoàn toàn mù mờ về những điều đã xảy ra trong quá khứ. Có thể họ không cần viết hay nói ra mọi thứ một cách rõ ràng, nhưng nếu được yêu cầu tường thuật lại cấu trúc cuốn sách thì có thể họ sẽ làm gần giống công thức chúng tôi nêu trên.
Thứ nhất, không phải bao giờ các nhà bình luận cũng đưa ra những nhận xét đúng về một cuốn sách. Chúng tôi xin minh hoạ cụ thể. Ví dụ, sự phân tích về loại hình chính quyền trong tác phẩm Politics (Chính trị) của Aristotle là không hoàn chỉnh.
Hai là, nó cho phép bạn rút ngắn thư mục của mình để dễ kiểm soát hơn. Loại thứ hai rõ ràng là những tác phẩm vĩ đại, có sức sống mạnh mẽ qua nhiều thế hệ. Trước khi tiếp tục các phần tiếp theo, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng những quy tắc trong quá trình đọc phân tích không miêu tả một quy trình hoàn hảo.
Một trong những nguyên nhân là do nhiều người không biết cách đọc một cuốn sách riêng lẻ. Giả sử, bạn không hoàn toàn chắc chắn, nghĩa là trong ban hội thẩm vẫn còn có nghi ngờ. Biết được ý định của tác giả cũng có nghĩa là biết ông ta muốn bạn làm gì.
Thứ hai, hãy phân biệt kiểu lập luận nêu ra một hay nhiều dẫn chứng cụ thể làm nền tảng cho việc khái quát hoá và kiểu lập luận nêu lên một chuỗi những phát biểu chung chung nhằm chứng minh thêm một số điều khái quát. Chúng tôi không thể viết cuốn sách này nếu chúng tôi theo quan điểm trên. Tthứ nhất, việc bất đồng quan điểm nếu kéo dài dai dẳng cho thấy có một vấn đề lớn chưa được hoặc không giải quyết được.
Người đọc có cảm giác tác giả muốn nói nhiều hơn những gì được viết ra vì họ phải suy nghĩ rất nhiều và liên kết các câu, dựng nên những lý lẽ để đưa ra lý luận của riêng mình. Điều quan trọng nhất cần phải ghi nhớ về bất kỳ cuốn sách thực hành nào là cuốn sách đó không thể giải quyết những vấn đề thực tiễn mà nó nói đến. Khi mang tính tích cực, triết học không đơn thuần là suy luận, tức là suy nghĩ mà không có kinh nghiệm.