Phần lớn sách triết học đều nêu lên một số giả thuyết mà các tác giả cho là hiển nhiên. Ngay từ đầu, Euclid đã làm rõ hệ thống từ chuyên môn mà ông sử dụng. Sai lầm của Spinoza ở khía cạnh này xuất phát từ lập luận của ông ta.
Độc giả bình thường trong đó có bạn có thể tiếp cận các tác phẩm đó. Vì thế, nỗ lực chủ yếu của độc giả là phải tìm hiểu các từ ngữ, đưa ra nhận định ban đầu. Trên thực tế, tất cả mọi điều mà một người viết về một chủ đề nào đó đều là tự thuật.
Chúng ta đọc các tạp chí xuất bản định kỳ để thâu tóm được các tin tức và sự kiện đang diễn ra. Hãy đánh dấu những từ khó hiểu vì đó thường là những từ được tác giả sử dụng một cách đặc biệt. Nhưng thường một lập luận chiếm một vài đoạn văn hoặc nhiều hơn thế.
Trong khi đó, một tác phẩm mô tả thường hướng tới sự minh bạch, rõ ràng. Một nguyên nhân khác là việc quy định sử dụng thuật ngữ trong các ngành khoa học xã hội hay khoa học hành vi khó thực hiện hơn. Làm như vậy, bạn sẽ thấy được tổng thể và tìm ra phương pháp trình bày của Newton: đầu tiên là gì, tiếp theo là gì, các phần liên kết với nhau thế nào.
Cuốn Opticks (Quang học) của Newton nói đến những thí nghiệm trong phòng với hình lăng trụ, gương và những chùm sáng được kiểm soát đặc biệt. Nếu làm được điều này thì không còn gì khác biệt giữa các giác quan và trí óc. Độc giả có thể sẽ bị chỉ trích nếu nói mình không hiểu.
Bạn phải nhận ra một lập luận ngay khi thấy nó. Nếu họ đọc kỹ tiêu đề sách, họ có thể suy đoán rằng thời kỳ trị vì của Antonines là thời hoàng kim của Đế chế La Mã. Khi ấy, phải coi câu hỏi đó là chưa có hồi âm.
Những vấn đề Aristotle bàn đến trong các chuyên luận và những cách hành văn khác nhau mà ông dùng để trình bày những phát hiện của mình đã giúp tạo nên một số chuyên ngành và cách tiếp cận môn triết học ở những thế kỷ tiếp theo. Thứ hai, ngay cả các nhân vật có nhiều phát ngôn nhất trong truyện cũng hiếm khi có ý kiến rõ ràng về một vấn đề nào. Bạn nên nhớ, những ghi chú này chủ yếu đề cấp đến cấu trúc chứ không phải nội dung cuốn sách (ít nhất là chưa có các chi tiết).
Gibbon cũng không có những thông tin thực tế nhất định về ảnh hưởng của sự sụp đổ thành Rome. Trong khi các chương của một cuốn tiểu thuyết, các hồi của một vở kịch hoặc các khổ thơ thường sẽ trở nên vô nghĩa khi bị tách khỏi một tác phẩm nguyên vẹn. Điều này càng quan trọng hơn nếu sự kiện chúng ta muốn tìm hiểu mang một ý nghĩa thực tế nào đó đối với chúng ta.
Anh ta còn phát hiện ra, trong khoảng thời gian đọc kiểm soát ngắn ngủi đó, liệu cuốn sách có chứa đựng nội dung gì quan trọng về vấn đề anh ta đang tìm hiểu hay không. Nếu không làm thế nghĩa là bạn đã sẵn sàng đọc lướt qua cuốn sách. Cuốn sách này ghi lại sự biến thể của các vật thể sống qua nhiều thế hệ, và cách thức chúng chuyển sang những họ thực vật và động vật mới; bàn về sự thuần hoá vật nuôi trong nhà cũng như những biến đổi dưới tác động của điều kiện tự nhiên; chỉ ra cách thức đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên để tạo nên và duy trì sự phân họ động thực vật; đưa ra quan điểm rằng các loài không cố định và luôn biến đổi trong quá trình chuyển tiếp từ trạng thái kém rõ ràng sang trạng thái rõ ràng và ổn định hơn, thông qua một loạt dẫn chứng từ những loài động vật đã tuyệt chủng, từ những so sánh về phôi thai học và giải phẫu học.
Xét trên phương diện này, đây là kiểu đọc chủ động nhất. Vì thế, một khoá dạy đọc tốc độ cần dạy bạn đọc với những tốc độ khác nhau, chứ không phải tốc độ nhanh hơn tốc độ hiện thời của bạn. Nếu muốn biết bản chất thời đại của mình là gì, chúng ta phải hiểu ít nhiều về toán học, hiểu các nhà toán học làm việc và suy nghĩ như thế nào.