Để hiểu được những luận cứ quy nạp trong sách khoa học, bạn cần phải tìm hiểu các dẫn chứng cơ bản mà nhà khoa học đưa ra. Một thuật ngữ không phải là một từ, ít nhất cũng không phải một từ đơn thuần không có tính chất gì đặc biệt. Quy tắc này có hai phần rõ ràng: Thứ nhất, tìm ra các từ quan trọng tạo nên sự khác biệt; thứ hai, xác định chính xác nghĩa của các từ này theo dụng ý của tác giả.
Nó còn giúp ta giữ cho trí óc sống và phát triển. Nhờ đó, bạn nhận ra cuốn sách không còn gì để cho bạn thêm nữa. Nhưng với từ cause (nguyên nhân), Eddington lại không thể sử dụng theo nghĩa dễ hiểu như vậy.
Vì vậy, để giao tiếp thành công, cả hai bên cần phải dùng những từ có nghĩa giống nhau, tức là phải thống nhất về thuật ngữ. Bạn không thể đọc bản gốc để tìm xem những gì được cắt bớt mà phải tự mình suy diễn từ bản rút gọn. Tương tự, cấp độ thứ hai không bị cấp độ thứ ba che mất, và cấp độ thứ ba thì không bị cấp độ bốn lấn lướt.
Tốt nhất là bạn tự viết được một bản tóm tắt trong quá trình đọc phân tích. Nhận định chính là câu trả lời cho những câu hỏi. Nếu bạn không biết cách thông cảm khi đọc một quyển sách, sự bất đồng của bạn có thể mang tính chất tranh cái chứ không tế nhị hay lịch sự.
Cuối cùng, Syntopicon còn đóng vai trò hướng dẫn theo ba cách khác biệt. Tuy nhiên, các nhà triết học thường hay đặt ra những từ mới, hoặc biến một số từ trong ngôn ngữ đời thường thành từ chuyên môn. Nói đúng hơn, tìm thấy nó thì cũng là thấy trong mâu thuẫn giữa những câu trả lời trái ngược nhau, mà phần nhiều các câu trả lời đó đều chứa đựng những dấn chứng rất thuyết phục và những lý do xác đáng để củng cố cho chúng.
Khả năng đó có thể chưa đủ và còn xa mới đạt đến trình độ của người đọc hoàn hảo, nhưng ít nhất họ biết cách đọc được phần cốt lõi của cuốn sách, đưa được một vài nhận định có lý về cuốn sách và đặt được vấn đề cốt lõi đó vào kế hoạch nghiên cứu chủ đề của họ. Mỗi cuốn sách thực hành đều có sự pha trộn giữa hùng biện và tuyên truyền. Khi nói một tác giả không có đủ thông tin, nghĩa là chúng ta cho rằng tác giả thiếu một lượng kiến thức liên quan mật thiết tới vấn đề mà anh ta đang cố gắng giải quyết.
Như Emerson nói về cái đẹp rằng nó là lý do tồn tại của chính nó. Đây chính là lúc cần chú ý tới biện pháp tu từ. Nhưng ngay cả khi con người ngày nay không còn lo lắng về nguy cơ một cuốn chiến tranh nguyên tử hay hạt nhân sắp xảy ra, thì vẫn có nhu cầu đọc cuốn sách lý thuyết này hay một cuốn khác tương tự.
Tác phẩm bàn về một chủ đề quan trọng mà tất cả chúng ta ngày nay đặc biệt quan tâm - khủng hoảng môi trường. Trong thực tế, toàn bộ quá trình cảm thụ này được chỉ dẫn vởi sự gặp gỡ về tư tưởng thông qua phương tiện ngôn ngữ. Nói cho đúng, đó là do người ta đã kỳ vọng quá nhiều trong lần đầu tiên đọc một cuốn sách khó.
Ngay phần quảng cáo về những cuốn sách đó đã nêu ra luận điểm chính của sách. Chính bản tóm lược này là thước đo mức độ hiểu, thể hiện sự sở hữu về mặt trí tuệ của bạn đối với cuốn sách. Các câu trả lời muôn hình muôn vẻ và liên quan chặt chẽ đến nhau tạo thành cuộc tranh luận chung về sự tiến bộ.
Hơn nữa, không phải cứ tương ứng với một câu trần thuật là một nhận định được nêu ra. Vấn đề thứ hai là sử dụng từ đồng nghĩa. Nhờ sự đồng tình đó, người đọc có thể nhìn thấu được ngôn ngữ người viết đã sử dụng để thể hiện ý tưởng.