Khi đọc một cuốn sách thiên về các quy tắc thì những nhận định chủ yếu cần tìm phải là các quy tắc. Tóm lại, hai nhận xét đầu chỉ ra khuyết điểm của tác giả trong cơ sở lập luận. Ví dụ, một người biết và am hiểu một số dữ kiện về lịch sử nước Mỹ, theo một luồng tư tưởng nào đó, có thể dễ dàng đọc để thu thập thêm thông tin và vẫn hiểu các thông tin theo cách tương tự.
Những gì trường tồn lại là những chuyên luận rất khó về một số chủ đề khác nhau. Những bài viết khoa học xã hội có nhiều thuật ngữ và hình ảnh ẩn dụ kèm theo xúc cảm sâu sắc thường làm độc giả lầm tưởng là dễ đọc. Tiêu biểu như cuốn Lives of the Noble Grecians and Romans (Cuộc đời của những người Hy Lạp và La Mã đáng kính) của Plutarch.
Trong giai đoạn hai của việc đọc phân tích, quy tắc đầu tiên đòi hỏi bạn phải thống nhất thuật ngữ với tác giả, nghĩa là phải xác định được những từ khoá trong tác phẩm và cách tác giả sử dụng chúng. Những nghiên cứu như thế bắt đầu với việc Galileo sử dụng kính viễn vọng và ông đã phát hiện ra những mặt trăng của Sao Mộc. Có thể bạn từng là thành viên của một bồi thẩm đoàn nào dó và nghe lời khai về một sự việc rất đơn giản như một vụ tai nạn xe hơi.
Đọc sách cũng giống như trượt tuyết. Nếu thế, ưu tiên hàng đầu sẽ là việc đọc từng cuốn sách riêng lẻ, còn vấn đề cần giải quyết bị đẩy xuống hàng thứ hai trong khi đáng ra phải làm ngược lại mới đúng. Ý NGHĨA CỦA CUỐN SÁCH? Bạn phải hỏi ý nghĩa của những thông tin mà cuốn sách mang lại là gì? Tại sao tác giả cho rằng cần phải biết những điều này? Bản thân bạn có cần phải biết không? Và nếu cuốn sách không những cung cấp thông tin mà còn mở mang kiến thức cho bạn thì điều đó nghĩa là bạn cần đào sâu tìm tòi hơn nữa bằng cách hỏi thêm sẽ có gì xảy ra tiếp theo, tác giả còn có ngụ ý gì và đề xuất gì thêm.
TỪ MANG TÍNH THÔNG LỆ - từ là các ký hiệu do con người đặt ra. Hoặc bạn có thể quyết định rằng hiểu như thế là đủ, và không cần quan tâm đến những gì vượt quá tầm hiểu biết của bạn. Các tác phẩm viết theo kiểu này có thể là các công trình có tính trang trọng và khó đọc như các tác phẩm của Kant hay các bài luận triết học thông thường.
Một ví dụ khác là Shaw, người không những muốn kịch của mình được dựng trên sân khấu mà còn mong mọi người đọc chúng. Có hai loại phần thưởng. Trong khi vừa phải xây dựng một hệ thống thuật ngữ, chúng ta cũng đồng thời đối mặt với nhiệm vụ tạo dựng một loạt nhận định mang tính trung lập.
Tri thức hay kiến thức có thể được sử dụng theo nhiều cách, không chỉ để chế ngự thiên nhiên hay sáng chế ra máy móc, những công cụ hữu dụng, mà còn để định hướng phẩm cách và điều chỉnh hoạt động của con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ lâu, chúng tôi đã biết rằng các khoá dạy đọc tốc độ đã tận dụng đúng mức sự thật là hầu hết mọi người toàn đọc thầm sau lần đầu tiên được dạy đọc. Điều này cũng chưa hoàn toàn xác đáng vì xét một cách chặt chẽ thì không có từ nào là hoàn toàn rõ nghĩa.
Nếu bạn đã từng làm một trong hai việc trên, bạn sẽ hiểu việc tái hiện lại quá khứ từ trí nhớ của những người đã chứng kiến sự việc xảy ra khó khăn đến mức nào, dù đó chỉ là một sự kiện đơn lẻ trong quá khứ. Thậm chí, với một tác phẩm lịch sử phức tạp, ít nhất người đọc cũng biết là mình đang đọc lịch sử. Chỉ cần đưa ra được những bằng chứng chứng minh rằng quyển sách quá khó hiểu, độc giả sẽ không nhất thiết phải thể hiện là mình hiểu cuốn sách nữa.
Điểm dễ nhận thấy của một triết gia tài năng là họ có thể làm nổi bật những điều này hơn các nhà văn. Cuộc tranh luận này có thể rất phức tạp và người đọc có nhiệm vụ phải tìm hiểu và sắp xếp nó có trật tự và rõ ràng ngay cả khi không tác giả nào làm việc đó. Đây là một hoạt động phức tạp hơn, những cũng hệ thống hơn hai cấp độ trước.
Mỗi cuốn sách luôn có một số lượng lớn những từ đã được xếp sẵn vào vị trí. Ta có thể hiểu cuốn sách của tác giả đó, nhưng sẽ không hiểu được sách của những người khác và vấn đề ta nghiên cứu không sáng tỏ thêm được gì. Khi đã làm được điều này, học sinh có thể đọc nhanh với tốc độ của trí óc chứ không phải chậm chạp như tốc độ của mắt.